Tạp chí điện tử về cổ vật, lịch sử và di sản văn hóa Việt Nam

Di tích Lịch sử Đền Phú Phong
Giải mã di sản

Di tích Lịch sử Đền Phú Phong

Hương Dương Thị Mai·07/04/2016·1 phút đọc

Đền Phú Phong là nơi tôn thờ nữ Anh hùng Triệu Thị Trinh và phối thờ Tham đốc Hoan quận công Hồ Hữu Nhân. Đền Phú Phong cách Thủ đô Hà Nội khoảng 230km về phía Nam, cách thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An khoảng 70km về phía Bắc, cách trung tâm huyện lỵ Quỳnh Lưu khoảng 15 km về phía Đông Bắc.

Nếu đi theo hướng Vinh – Hà Nội, du khách đi từ thành phố Vinh  theo đường Quốc lộ 1A về phía Bắc khoảng 67 km thì đến chợ Quỳnh Văn (chợ mới) huyện Quỳnh Lưu, rẽ phải theo đường liên xã khoảng 5km là đến di tích. Hướng Hà Nội – Vinh, du khách đi từ Hà Nội theo Quốc lộ 1A về phía Nam khoảng 230km thì đến chợ Quỳnh Văn (chợ mới) huyện Quỳnh Lưu, rẽ trái theo đường liên xã khoảng 5km là đến di tích.

Đền Phú Phong được xây dựng từ thời Hậu Lê để thờ người có công với dân với nước, là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân địa phương và vùng lân cận. Di tích còn gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử của địa phương cũng như của dân tộc.

 Nữ tướng Triệu Thị Trinh sinh ngày 2 tháng 10 năm 226 (Bính Ngọ) tại miền núi Quân Yên, quận Cửu Chân (nay thuộc làng Quan Yên, xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa) trong một gia đình hào trưởng. Triệu Thị Trinh là một phụ nữ có tướng mạo kỳ lạ: “Mặt hoa, tóc mây, mắt châu, môi đào, mũi hổ, trán rồng, tiếng như chuông lớn… sắc đẹp động lòng người”. Thuở nhỏ cha mẹ đều mất sớm, Bà Triệu ở với anh là Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng ở Quân Yên. Bà là người tính tình vui vẻ, khoẻ mạnh, ham mê võ nghệ, trí lực hơn người: “chân đi một ngày trăm dặm, sức có thể khua gió bạt cây, tay đánh chân đá như thần”. Truyền thuyết kể rằng: có lần xuất hiện con voi trắng một ngà phá phách ruộng nương, làng xóm, quật chết người, Triệu Thị Trinh dũng cảm cầm búa nhảy lên đầu giáng một phát trúng huyệt làm con voi dữ phải gục đầu qui thuận.

Đền Phú Phong được xây dựng từ thời Hậu Lê để thờ người có công với dân với nước (Ảnh: TL)

Thời đó, nước ta chịu ách đô hộ của nhà Đông Ngô (Trung Quốc). Nhà Đông Ngô chia Hợp Phố về phía Nam gọi là Giao Châu, sai Đới Lương làm Thứ sử. Nước ta thuộc Giao Châu, gồm các quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Chúng thực hiện chính sách cai trị tàn ác, tô thuế nặng nề, bắt đàn ông xuống biển mò ngọc trai, lên rừng săn tê giác để làm cống phẩm nộp cho thiên triều; bắt đàn bà làm tì thiếp, nô lệ trong các nhà quan lại, quý tộc. Đời sống nhân dân lầm than, cơ cực, khắp nơi là cảnh đau thương ai oán, chứng kiến cảnh lầm than cơ cực của nhân dân, Triệu Thị Trinh không chịu khuất phục trước sự đô hộ của ngoại bang và sớm nuôi chí lớn đánh giặc cứu nước yên dân. Khi đến tuổi cài trâm, anh trai bàn tới chuyện hôn nhân của Bà, Bà đã trả lời tỏ rõ khí phách: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta”. Rồi sau đó, Bà bỏ vào núi bí mật chiêu binh mãi mã, tích trữ lương thảo, luyện tập võ nghệ để mưu việc lớn. Năm Mậu Thìn (Hán Diên Hi năm thứ 11, Ngô Vĩnh An năm thứ nhất, năm 248), khi ở tuổi 22, Triệu Thị Trinh phất cờ khởi nghĩa ở núi Nưa (Thanh Hoá). Tại đây, Bà cùng với anh trai xây dựng căn cứ, chiêu mộ thêm nghĩa quân đánh giặc.

Tương truyền rằng: khi Bà Triệu khởi nghĩa, trời đã sai đá núi loan tin tập hợp binh sĩ trong vùng. Đêm khuya, từ lòng núi đá phát ra rằng:“Có Bà nữ tướng, vâng lệnh trời ra, trị voi một ngà, dựng cờ mở nước, lệnh truyền sau trước, theo gót Bà Vương”. Vì thế, nghĩa quân của Bà Triệu đi đến đâu cũng được dân chúng rất nhiệt tình hưởng ứng. Anh trai Bà là Triệu Quốc Đạt được tôn làm Chủ tướng. Khi ra trận, Bà Triệu thường mặc áo giáp vàng, chít khăn vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi một ngà. “Quân Ngô sợ hãi không dám đánh lại, và chỉ giữ chặt cửa ải ở các nơi để cầm cự”.

Đền Phú Phong (Ảnh: TL)

Từ hai căn cứ núi Nưa và Yên Định, hai anh em bà dẫn quân đánh chiếm Tư Phố (lỵ sở của quận Cửu Chân) nằm ở hữu ngạn sông Mã. Đây là căn cứ quân sự lớn của quan quân nhà Đông Ngô trên đất Cửu Chân, đứng đầu là Tiết Kính Hàn. Thừa thắng, lực lượng nghĩa quân chuyển hướng xuống hoạt động ở vùng đồng bằng sông Mã. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng lan rộng ra các vùng khác, làm chấn động cả Giao Châu. Đang lúc cuộc khởi nghĩa lên cao thì chẳng may ông Triệu Quốc Đạt lâm trọng bệnh rồi qua đời. Các nghĩa binh thấy Bà có tài tướng soái bèn tôn lên làm Chủ tướng và gọi Bà là Nhuỵ Kiều tướng quân. Được tin cuộc khởi nghĩa lan nhanh, Vua Đông Ngô là Tôn Quyền liền phái Hành Dương đốc quân Đô úy Lục Dận (cháu của Lục Tốn) sang làm Thứ sử kiêm Hiệu uý, đem theo 8.000 quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa. Đến nơi, Lục Dận liền dùng của cải mua chuộc một số hào mục địa phương để làm suy yếu và chia rẽ lực lượng nghĩa quân.

Những trận đánh ác liệt đã diễn ra tại căn cứ Bồ Điền (nay thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Song do chênh lệch về lực lượng và không có sự hỗ trợ của các phong trào đấu tranh khác nên căn cứ Bồ Điền bị bao vây cô lập, và chỉ đứng vững được trong hơn hai tháng. Cuối cùng Bà phải cho quân rút lui về núi Tùng (Thanh Hóa) để cố thủ. Nhưng thế giặc quá mạnh, nghĩa quân bị tan rã, Bà đã hi sinh trong lúc giao tranh với quân giặc. Sau khi Bà mất đã hiển linh thành thần, dân vùng Bồ Điền, Phú Điền thường nghe trên không trung tiếng cồng thúc quân, voi gầm, ngựa hí. Bà đã âm phù cho nhiều thủ lĩnh Đại Việt đánh tan quân xâm lược phương Bắc, như việc bà báo mộng âm phù cho Lý Nam Đế đánh thắng giặc, nên Lý Nam Đế đã cho xây lăng mộ và đền thờ để ghi nhớ công ơn của Bà. Các triều đại phong kiến đều ban tặng sắc phong, giao cho làng Đa Kỳ Nội (sau này là làng Phú Phong) có trách nhiệm phải “tòng tiền phụng sự”. Hiện nay, tại đền Phú Phong còn lưu giữ được bản sao của 9 đạo sắc phong của các triều đại từ thời Lê đến thời Nguyễn ban cho Bà Triệu.

Đền Phú Phong được xây dựng ở vị trí cảnh quan đẹp (Ảnh: TL)

Ngoài ra, đền Phú Phong còn phối thờ Hoan quận công Hồ Hữu Nhân. Ông sinh năm 1380 ở Thổ Đôi trang nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông là con trai cụ Hồ Hồng, cháu nội cụ Hồ Kha, cháu xa đời của Trạng Nguyên Hồ Hưng Dật. Ngay từ nhỏ, Hồ Hữu Nhân đã nổi tiếng trong vùng là người thông minh, nhanh trí, sáng dạ. Là con nhà võ tướng nhưng ông rất chăm lo đèn sách, rèn chí luyện tài. Sống trong cảnh nước mất nhà tan, Hồ Hữu Nhân không chịu cam phận. Ông đã cùng anh trai là Hồ Hân bí mật luyện tập võ nghệ, liên kết bạn bè chờ thời cơ khởi nghĩa. Ông đã trải qua nhiều trận chiến đấu dũng cảm khi ở Thanh Hóa, lúc ở Nghệ An..., bao giờ ông cũng lập nhiều chiến công lớn, Lê Thái Tổ phong cho ông chức Quản đô Thái giám Tham chưởng Giám sự, tước Diễn Lộc hầu. Ông tham gia triều chính dưới hai triều Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông, được thăng dần lên chức Đô Thống Tham Đốc, tước Hoan quận công. Không những thế, lúc về nghĩ dưỡng ở quê nhà. Ông đã cùng vợ con chiêu dân lập ấp, cấp tiền, gạo cho dân, dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi, luyện tập võ nghệ, mời thầy giỏi về dạy học cho các sĩ tử trong làng. Sau đó, ông cùng với Hoàng Dụy và Nguyễn Khánh Duệ men theo ven biển lần ra Bắc khai phá đất đai, lập ra xứ Đa Kỳ Nội và Đa Kỳ Ngoại (nay là làng Phú Phong và Phú Đa của xã Quỳnh Bảng).

Khi ông mất, nhân dân nhớ ơn lập đền thờ, tôn làm phúc thần. Hai làng Phú Đa và Phú Phong đều có đền thờ ông. Các triều đại phong kiến đều có sắc phong. Đền thờ ông rất linh thiêng, phương dân cầu đảo nhiều lần linh ứng.

Đền Phú Phong được xây dựng ở vị trí cảnh quan đẹp, các công trình kiến trúc hiện còn của di tích đều mang dấu ấn của thời Nguyễn. Đây là công trình do chính bàn tay tài hoa của người thợ địa phương làm nên. Các phù điêu, rồng phượng, vân mây, sóng nước hoa văn thật mềm mại, uyển chuyển. Đền nằm ngay trên tuyến tham quan du lịch biển Quỳnh, đến với di tích là dịp để du khách được hòa mình vào không gian làng quê yên ả, với đồng rau xanh mướt, sóng biển rì rào, bãi biển cát trắng thẳng tắp, hàng dương xanh tít... Phong cảnh thật hữu tình nên thơ ấy sẽ giúp du khách giải tỏa những tấm trạng u buồn trong đời thường, để thả hồn vào không gian bay bổng, thích thú. Đây là dịp để du khách được trải nghiệm những khám phá thú vị về non nước xứ Quỳnh và những phút lắng lòng ở cõi linh thiêng. Đồng thời thăm quan các di tích, danh thắng nổi tiếng khác như: đền Quy Lĩnh, đền đền Đồng Xuân, đền uân Úc, đền Cờn, di chỉ khảo cổ học Quỳnh Văn …

(Ảnh: TL)

Đặc biệt, đây là nơi duy nhất trên đất Nghệ An thờ Bà Triệu, và là nơi lưu giữ được nhiều hiện vật quý như: long ngai, bài vị, lư hương đá, lư hương đồng, hộp đựng sắc phong, mâm chè, bảo kiếm… và các tài liệu Hán Nôm có giá trị như: thần tích, thần sắc, văn cúng..., Vì vậy, việc tôn vinh Bà Triệu thể hiện lòng ngưỡng mộ và tự hào của nhân dân xứ Nghệ đối với một vị anh hùng dân tộc. Qua việc nghiên cứu các tài liệu còn lưu giữ tại đền giúp chúng ta hiểu hơn về sự tích của các nhân vật được thờ, nguồn gốc địa danh, sự phát triển xã hội, thay đổi tên gọi của làng xã, địa giới hành chính qua các thời kỳ.

Bên cạnh đó, đền Phú Phong còn là nơi chứng kiến những biến đổi thăng trầm của lịch sử địa phương. Năm 1945, đền Phú Phong là nơi luyện tập của đội Bảo an làng Phú Phong để chuẩn bị giành chính quyền,  nơi mở lớp bình dân học vụ. Trong kháng chiến chống Mỹ, đền Phú Phong được sử dụng làm kho hợp tác xã, nơi chế biến dược liệu của huyện Quỳnh Lưu. Thời chiến tranh biên giới, đền là nơi cất giữ súng đạn… Bởi thế, về với đền Phú Phong là dịp để du khách hiểu thêm về lịch sử của một vùng đất cách mạng anh hùng.

Hàng năm, những ngày lễ trọng nhân dân quanh vùng về dự rất đông. Mỗi người về dâng hương tại đền đều mang mỗi mong ước khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở một điểm là lòng thành kính và biết ơn. Các hoạt động tế lễ được tổ chức rất trang nghiêm, trọng đại vừa mang bản sắc cổ truyền lại vừa mang hơi thở của cuộc sống hiện đại. Đây là nơi bảo lưu các tinh hóa văn hóa truyền thống của địa phương. Trải qua biến cố thăng trầm của thời gian, chiến tranh nhưng những truyền thống tốt đẹp ấy vẫn không bị phai mờ mà ngày càng được trân trọng, phát huy hơn. Nó không chỉ dừng lại ở sự cúng tế, hội hè mà cao hơn là tinh thần đoàn kết cộng đồng, tình làng nghĩa xóm.Và cũng thông qua đó thể hiện tấm lòng tri ân, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, góp phần bồi đắp tình yêu quê hương xứ sở, giáo dục tinh thần tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.

PV(Tổng Hợp)

Nhận bản tin Di sản mỗi tuần

Những câu chuyện lịch sử, cổ vật và di sản được tuyển chọn kỹ lưỡng, gửi đến bạn trong một nhịp đọc chậm rãi và sâu sắc.

  • Tuyển chọn bài viết chuyên sâu
  • Lịch sự kiện, triển lãm, cuộc thi
  • Hồ sơ long-form mới nhất

Chúng tôi tôn trọng quyền riêng tư của bạn. Hủy đăng ký bất cứ lúc nào.