
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Pà Thẻn ở Việt Nam có dân số 6.811 người, có mặt tại 32 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Pà Thẻn cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Đồng Nai, Thái Nguyên, Hà Nội... Người Pà Thẻn tự gọi mình là Pà Hưng. Các dân tộc anh em khác thì gọi người Pà Thẻn là Mèo Lài, Mèo Hoa, hoặc Mèo Dỏ. Trong thư tịch cổ xưa, người Pà Thẻn được nhắc đến với tên Bát tiên tộc.
Truyền thuyết xưa của người Pà Thẻn kể lại rằng: Trước kia tổ tiên của họ ở vùng Than Lò (Trung Quốc), các dân tộc xung quanh gọi họ là Húng Dao hoặc là Thầu Dao. Người Pà Thẻn di cư đến nước ta cách ngày nay vào khoảng từ 200 làm đến 300 năm, cùng với các nhóm người Dao khác ở nhiều đoạn và những thời điểm khác nhau.
Ngôn ngữ người Pà Thẻn được xếp vào ngữ hệ Mông - Dao. Điều này cũng khá phù hợp với truyền thuyết về hành trình vượt biển từ vùng Than Lô, Trung Quốc đến Việt Nam của người Pà Thẻn cùng với dân tộc Dao cách đây hơn 300 năm.
Trước kia, người Pà Thẻn sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, cây lương thực chính là lúa và ngô. Lúa cũng có nhiều loại, lúa tẻ (mô ha la, mô cò nhà, mô ta tớ, mô nhơ) và lúa nếp (mô cằm đi, bôn tri, bù mẻ khó, v.v...). Trên một đám nương người Pà Thèn chỉ canh tác từ hai đến ba vụ, tuỳ theo độ màu mỡ của đất, thu hoạch xong lại bỏ hoang hoá, họ kéo nhau đi tìm vùng đất mới, tiếp tục với công việc phát nương làm rẫy. Công việc này sẽ do người già hoặc người lớn tuổi trong gia đình có kinh nghiệm đảm nhận.
Phương thức canh tác của người Pà Thèn là dùng gậy nhọn đầu (chà gia) để chọc lỗ gieo hạt, gậy có độ dài từ 2 mét đến 2,50 mét. Họ tra lúa sớm từ tháng ba đến tháng tám Âm lịch đã cho thu hoạch, có vài nơi cấy lúa muộn, thì thu hoạch vào cuối tháng mười. Khi mùa lúa chín, dùng nhíp để cắt từng bông. Trên những đám ruộng nương nào mà không trồng lúa, thì được trồng khoai môn, khoai sọ, đậu, ngô, bầu, bí và các loại rau.
Do tình trạng nền sản xuất thấp kém, lạc hậu kém phát triển như vậy, người Pà Thẻn xưa kia nhiều năm bị hạn hán, sâu bệnh thú rừng phá hoại, thu hoạch không đủ ăn, đời sống bấp bênh, nhiều người phải bỏ vào rừng kiếm rau và những cầy có củ để sống. Từ ngày có phong trào định canh, định cư, áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất cây trồng, người Pà Thẻn đã quy tụ sống tập trung thành những làng có dân cư đông đúc, xây dựng hợp tác xã tuỳ theo địa phương số nhà có trong mỗi làng khác nhau.

Nhà ở của người Pà Thẻn có 3 loại: Nhà sàn, nhà nền, nhà đất và nhà nửa sàn nửa đất. Nhà ở truyền thống của người Pà Thẻn thường là nhà nền đất, có diện tích rộng trên dưới 100m2, chia thành ba gian không có chái, kiến trúc khá đơn giản với bộ khung nhà là vì kèo ba cột, dùng ngoãm và buộc lạt. Mái nhà được chằm bằng lá cọ, hai đầu hồi thưng gỗ thoáng để lấy ánh sáng mặt trời. Gian hồi bên phải, về phía trước có giường của bố mẹ chủ nhà. Tin vào sự tồn tại của các siêu linh, vạn vật có linh hồn…, người Pà Thẻn thường thờ cúng tổ tiên trong nhà. Ngoài ra, họ còn thờ cúng nhiều vị thần khác như thần sấm, thần sét, thần mưa, thần gió, các thần có liên quan đến nền sản xuất nông nghiệp.
Có đặc điểm tộc người đậm nét khác phong cách các dân tộc cùng nhóm ngôn ngữ hay khu vực. Cái độc đáo của trang phục Pà Thẻn là ở trang phục nữ, được biểu hiện ở lối tạo dáng áo dài, cách dùng màu và lối mặc, tạo nên một phong cách riêng. Nam thường mặc áo quần màu chàm. Đó là loại áo cánh ngắn xẻ ngực, quần lá tọa, giống phong cách trang phục các dân tộc Tày,... Phụ nữ Pà Thẻn đội khăn màu chàm quấn thành nhiều vòng trên đầu. Đó là lối đội khăn chữ nhất quấn thành mái xòe rộng như mũ, hoặc lối đội khăn hình chữ nhân giản đơn hơn cũng tạo thành mái nhơ ra hai bên mang tai. Áo có hai loại cơ bản là áo ngắn và áo dài. Áo ngắn xẻ ngực, cổ thấp, màu chàm, cổ làm liền với hai vạt trước. Áo này thường mặc với váy rộng nhiều nếp gấp. Áo dài là loại xẻ ngực, có thể gọi là áo lửng, cổ thấp liền hai vạt trước, khi mặc vạt phải đè chéo lên vạt trái, phía dưới của vạt phải nhọn xuống tạo thành vạt chính của thân trước. Ống tay và toàn bộ thân áo được trang trí với lối dùng màu nóng sặc sỡ. Áo này mặc với váy hở dệt thuê hoa văn đa dạng (hình thập ngoặc, hình quả trám...). Giữa eo thân áo được thắt dây lưng là loại được dệt thuê hoa văn. Phụ nữ ưa mang nhiều đồ trang sức vòng cổ, vòng tay,... Cùng với áo và váy, phụ nữ có a thứ (vừa giống cái yếm vừa giống tạp dề). Nó được mang như mang tạp dề nhưng không có công dụng như tạp dề. Màu sắc chủ yếu trên phụ nữ là đỏ, đen, trắng. Hoa văn chủ yếu được tạo ra bằng dệt.

Về hôn nhân, dân tộc Pà Thẻn có nhiều dòng họ. Những người cùng họ coi nhau như những người thân thích có chung một tổ tiên, không được lấy nhau. Thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng bền vững, có nghĩa vụ nuôi dạy con cái, ít có hiện tượng ly hôn, ngoại tình và lấy vợ lẽ, trừ một số là trường hợp vì không có con. Ai vi phạm về đạo đức xã hội là bị cả cộng đồng lên án, cho nên ít xảy ra những hiện tượng trái với đạo đức trái với luân thường đạo lý. Xưa kia người Pà Thẻn còn nặng về nghi thức hôn nhân cưới xin phức tạp. Số tiền nhà gái thách cưới rất nặng. Người Pà Thẻn có tục ở rể theo hạn định là 12 năm, ít nhất cũng là 6 năm, còn 6 năm về sau có thể thế chấp bằng tiền. Nếu gia đình đó mà không có con trai thì chú rể đó phải ở hẳn bên nhà vợ. Người ở rể phải thờ ma họ vợ, chia ra làm hai phần nửa con cái theo họ bố, nửa theo họ mẹ.
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Pà Thẻn được đánh giá là dân tộc bảo tồn và phát huy tốt những phong tục truyền thống độc đáo của cha ông để lại. Sinh hoạt văn hóa dân gian của dân tộc Pà Thẻn khá phong phú, thể hiện qua tàng truyện cổ tích, các làn điệu dân ca, hát ru, các điệu nhảy múa, các loại nhạc cụ (khèn bè, đàn tầy nhậy, sáo trúc...). Cùng với đó, dân tộc này có niềm tự hào riêng với lễ hội nhảy lửa, một sinh hoạt văn hóa mang đậm tính tâm linh, cầu điềm lành, mong xua đuổi tà ma…, song cũng ẩn chứa những minh triết về khả năng vượt qua khó khăn, đối đầu thử thách của con người trước các thế lực siêu nhiên.
Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội của người Pà Thẻn phải sống dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, là một cộng đồng nhỏ phải sống xen kẽ với nhiều dân tộc khác đông hơn luôn bị các thế lực phong kiến chèn ép, lấn lướt, người Pà Thẻn là người bị cùng khổ nhất ở địa vị thấp hèn. Chỉ từ sau Cách mạng Tháng Tám có Đảng có Bác Hồ, mới đem lại tự do, cơm no áo ấm cho người Pà Thẻn, họ mới thật sự làm chủ đời mình, có vị trí xã hội bình đẳng với các dân tộc anh em khác cùng chung trong đại gia đình Tổ quốc Việt Nam.
Ngày nay, người Pà Thèn đã có cuộc sống đủ ăn đủ mặc và tăng trưởng kinh tế, đi đôi với việc thực hiện chương trình 135-120 xóa đói giảm nghèo là một bước đi vững chắc cho tương lai, người Pà Thẻn càng ra sức xây dựng cuộc sống mới và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nguyễn Chính
Bài viết liên quan

Vua Minh Mạng với tầm nhìn chiến lược về biển đảo dẫn liệu từ các hình ảnh trên cửu đỉnh
Admin Sama · 1 phút đọc · 10/08/2026

Thưởng thức sâu muồng giữa núi rừng Trường Sơn
Admin Sama · 1 phút đọc · 16/07/2026

Lễ "Khô già già" của người Hà Nhì đen ở Nậm Pung
Admin Sama · 1 phút đọc · 16/07/2026